Edward Witten Thứ Năm, Jun 4 2009 

Article by: J J O’Connor and E F Robertson

04/ 1998

Dịch: Ngô Minh Tuấn


Sinh: 26 /08/ 1951 ở Baltimore, Maryland, USA


Edward Witten nghiên cứu tại đại học Brandeis và nhận bằng cử nhân vào năm 1971. Từ đó ông đến Princeton nhận bằng thạc sĩ năm 1974 và bằng tiến sĩ năm 1976.

Sau khi hoàn tất học vị tiến sĩ, Witten đến Harvard ở đó ông theo học sau tiến sĩ trong suốt niên khóa 1976-1977 và sau đó là một hội viên ít thâm niên từ năm 1977 đến 1980. Tháng 9 năm 1980 Witten được chỉ định chức giáo sư vật lý tại Princeton. Ông nhận được học bổng MacArthur năm 1982 và là giáo sư vật lý tại Princeton từ 1987 cho đến khi ông được chỉ định làm giáo sư trong Ban khoa học tự nhiên tại Viện Nghiên cứu Cao cấp.

Về cơ bản Witten là một nhà vật lý toán học và có một số lượng xuất bản phẩm quan trọng dồi dào hoàn toàn về phương diện vật lý. Tuy nhiên, như Atiyah đã viết:-

Mặc dù rõ ràng ông là một nhà vật lý (như những xuất bản phẩm của ông đã chỉ rõ điều đó) sự tinh thông của ông về toán học là đáng gờm đối với một số ít nhà toán học, và khả năng diễn đạt những ý tưởng vật lý dưới dạng toán học của ông quả thực là độc nhất vô nhị. Hết lần này đến lần khác ông đã gây kinh ngạc cho cộng đồng toán học bởi sự ứng dụng một cách xuất sắc sự hiểu biết thấu đáo vật lý vào việc dẫn dắt những định lý toán học mới và sâu sắc.

Nói chuyện tại Hội nghị kỷ niệm lần thứ 100 của Hội toán học Mỹ năm 1988, Witten đã giải thích mối quan hệ giữa hình học và vật lý lý thuyết:-

Thường thì khi nghĩ về hình học trong vật lý, người ta chủ yếu nghĩ đến vật lý cổ điển – và cụ thể là đến thuyết tương đối rộng – hơn là đến vật lý lượng tử. … Tất nhiên, vật lý lượng tử ngay từ khi bắt đầu đã có môt ảnh hưởng đáng kể đến nhiều lĩnh vực trong toán học – giải tích hàm và lý thuyết biểu diễn, chỉ đề cấp đến hai điều đó. … Một vài ảnh hưởng quan trọng đã gây ra một sự thay đổi trong tình hình này. Một trong những ảnh hưởng chủ yếu là việc nhận ra – được thiết lập rõ ràng vào giữa những năm 1970 – vai trò trung tâm của lý thuyết chuẩn nonabelian trong vật lý hạt cơ bản. Ảnh hưởng quan trọng khác đến từ việc xuất hiện sự nghiên cứu về siêu đối xứng và lý thuyết dây.

Trong nghiên cứu của ông về các lĩnh vực này của vật lý lý thuyết, Witten đã đạt đến trình độ toán học khiến cho ông đã nhận được giải thưởng cao quý nhất mà một nhà toán học có thể nhận được, cụ thể là Huy chương Fields. Ông nhận được huy chương này tại Đại hội các nhà toán học quốc tế được tổ chức ở Kyoto, Nhật bản năm 1990. Trong biên bản lưu của Hội nghị gồm hai mục mô tả tác phẩm toán học của Witten đưa ông đến giải thưởng. Bài đọc tại lễ trao giải là của Atiyah, nhưng Atiyah không thể có mặt ở Kyoto để đọc bài diễn văn nên Faddeev, người trích dẫn Atiyah một cách tự do, đã làm thay.

Đóng góp quan trọng đầu tiên giúp cho Witten nhận được Huy chương Fields là chứng minh đơn giản của ông ước đoán khối lượng chính xác, là khởi nguồn dẫn đến Huy chương Fields trao cho Yau vào năm 1982. Gawedzki và Soulé mô tả công trình này của Witten, xuất hiện vào năm 1981:-

Chứng minh này … sử dụng một cách tinh tế ý tưởng về siêu đối xứng. Nó trở thành phần trung tâm cho nhiều tác phẩm sau này của Witten…

Một trong số những tác phẩm sau đó của Witten là một bài báo mà Atiyah đặc biệt chú ý đề cập đến, cụ thể là Siêu đối xứng và lý thuyết Morse xuất hiện trong Tập san hình học vi phân năm 1984. Atiyah viết rằng bài báo đó:-

… bắt buộc phải đọc đối với những nhà hình học nào muốn hiểu về lý thuyết trường lượng tử hiện đại. Nó cũng chứa đựng một chứng minh xuất sắc bất đẳng thức Morse cổ điển, liên quan đến những điểm tới hạn đối với tính tương đồng. … Witten giải thích rằng “cơ học lượng tử siêu đối xứng” chỉ là lý thuyết Hodge-de Rham. Tuy nhiên, ý định thực tế của bài báo là nhằm chuẩn bị nền cho lý thuyết trường lượng tử siêu đối xứng với tư cách là lý thuyết Hodge-de Rham về những đa mặt có số chiều vô hạn. Nó là một tiêu chuẩn để đánh giá sự tinh thông của Witten trong lĩnh vực mà ông có khả năng tạo ra sự hữu ích mang tính kỹ năng và trí tuệ trong việc sử dụng cách nhìn gay go này trong tác phẩm sau này của ông.

Kể từ khi xuất hiện bài báo có ảnh hưởng sâu sắc này, những ý tưởng trong đó đã trở nên có ý nghĩa trung tâm trong nghiên cứu hình học vi phân. Những ý tưởng mới hơn về tầm quan trọng cơ bản được Witten giới thiệu và mô tả trong:-

Witten rốt cuộc đã đưa ra được một cách lý giải dây đối với các loại elip và kèm theo những lý lẽ luận cứ cho sự vững chắc của cách lý giải đó … Lĩnh vực khác nữa của toán học mới bắt nguồn từ những bài báo của Witten về những dị thường hấp dẫn toàn cầu … Trong những năm gần đây, Witten đã tập trung sự chú ý vào những lý thuyết trường lượng tử topo. Những lý thuyết này tương ứng với các hàm Lagrang … chính thức đem lại những bất biến đa mặt. Witten mô tả chúng dưới dạng những bất biến của Donaldson và Floer (mở rộng những ý tưởng trước đây của Atiyah) và tổng quát hóa đa thức nút Jones …

Những tác giả đã tổng kết những đóng góp của Witten cho toán học:-

Mặc dù phần lớn không ở dưới dạng những chứng minh hoàn tất, những ý tưởng của Witten làm nổ ra những phát triển toán học quan trọng bởi sức mạnh tưởng tượng và tính rõ ràng trong khái niệm của chúng, những phát hiện chủ yếu của ông sớm trở thành các định lý. Huy chương Fields dành cho ông tại Hội nghị Quốc tế các nhà Toán học đã công nhận ảnh hưởng ngày càng tăng của tác phẩm của ông đối với toán học đương thời.

Atiyah, đã biểu lộ cũng những đánh giá như vậy như sau:-

… ông đã gây ra ảnh hưởng sâu sắc đến toán học đương thời. Trong tay ông vật lý lại một lần nữa cung cấp một nguồn cảm hứng dồi dào và giúp hiểu thấu hơn về toán học. Tất nhiên sự hiểu biết sâu về vật lý không phải luôn ngay lập tức dẫn đến những chứng minh toán học nghiêm ngặt nhưng nó thường dẫn người ta đi đúng hướng, và những chứng minh chính xác mang tính kỹ thuật là hy vọng có thể đạt được. Đây là trường hợp với tác phẩm của Witten. Cho tới nay sự thấu triệt này chưa bao giờ làm cho ông phải thất vọng và những chứng minh nghiêm ngặt, theo tiêu chuẩn mà chúng ta những nhà toán học mong đợi một cách chính đáng, luôn luôn sẵn sàng.

Sự ngây thơ đã mất Thứ Năm, Jun 4 2009 

Keith Devlin, Thứ năm 26/04/2001

Biên dịch: Ngô Minh Tuấn


Thứ bảy tới (tức 28/04/2001-ND) đánh dấu ngày sinh nhật của nhà toán học Kurt Gödel. Sinh ở nơi mà sau này là nước Áo, vào 28/04/1906, Gödel mất ở Princeton, New Jersey vào 14 tháng giêng 1978, mang tâm trạng đa nghi rằng mình bị đầu độc và, do vậy, đã nhịn đói cho đến chết (một kết cục thật kỳ lạ đối với một trong những nhà logic vĩ đại nhất trên thế giới).

Hai năm trước, khi tạp chí Time tổ chức một cuộc bình bầu xác định 20 tư tưởng gia có ảnh hưởng nhất của thế kỷ XX, Gödel là một trong hai nhà toán học trong số 20 người. Ông đứng thứ 9, sau nhà thiên văn học Edwin Hubble, nhà vật lý Enrico Fermi, triết gia và là nhà kinh tế học John Maynard Keynes, người phát minh ra transistor William Shockley, hai nhà hóa sinh James Watson và Francis Crick người đã phát hiện ra mẫu hình chuỗi xắn kép của DNA, người phát triển thuốc kháng sinh chống vi khuẩn Jonas Salk, và người tạo ta world wide web Tim Berners-Lee. (Albert Einstein đứng cuối cùng.)

Gödel được biết đến nhiều nhất là qua phát hiện của ông vào năm 1931 về định lý bất toàn Gödel. Dưới dạng ngôn ngữ đời thường, nó nói rằng cho dù bạn cố gắng đến thế nào chăng nữa, bạn cũng sẽ không bao giờ có thể quy mọi cái liên quan đến toán học thành sự ứng dụng của những quy luật cố hữu. Không cần biết là có bao nhiêu quy luật và thủ tục mà bạn mô tả, sẽ luôn có một số sự kiện thực mà bạn không thể chứng minh được.

Một số nhà khoa học, nhất là nhà toán học học và vật lý học ở Oxford Ngài Roger Penrose, đã sử dụng định lý bất toàn của Gödel để lập luận rằng bộ não của con người không hoạt động giống một chiếc máy tính, và cụ thể là trí thông minh nhân tạo là không thể đạt được. Theo như những gì Penrose giải thích định lý của Gödel, toán học có một cơ sở hoàn toàn sáng tạo.

Sự tóm tắt định lý bất toàn ở trên, tôi dám nói, có một chút không đầy đủ. Đây là những gì mà Gödel thực sự làm.

Do bởi toán học giải quyết những vấn đề trừu tượng, bạn không thể xác minh những sự kiện toán học bằng cách thực hiện các quan sát hoặc trình diễn những thí nghiệm giống như các nhà khoa học khác vẫn thường làm. Bạn phải sử dụng phương pháp – những lý lẽ có logic. Những lý lẽ đó phải bắt đầu ở tại đâu đó. Vì vậy, bạn bắt đầu bằng cách viết ra một số những giả định trong một tập hợp lúc ban đầu, tức là các tiên đề.

Những tiên đề này phải đơn giản đến nỗi sự đúng đắn của chúng là không có gì phải bàn cãi. Những thứ như, hai đường thẳng hoặc song song hoặc gặp nhau tại đúng một điểm, hoặc khi bạn cộng hai số lại với nhau thì không quan trọng thứ tự trước sau. (Ví dụ đầu trong hai ví dụ trên thực ra là không “đúng tuyệt đối” như thoạt tiên tưởng chừng, nhưng đó là vấn đề khác.)

Một khi bạn đã có được những tiên đề, để quyết định được xem liệu lời tuyên bố nào đó là đúng hay sai, bạn cần phải chứng minh dựa trên những tiên đề đó.

Cách thực hiện toán học này được đưa ra bởi những người Hy Lạp cổ đại cách đây 2500, và vẫn làm việc tốt trong suốt lịch sử. Nó luôn thừa nhận rằng điều duy nhất có thể khiến cho bạn không có khả năng xác định được sự đúng sai của bất kỳ bài toán nào nêu ra là khi bạn bỏ sót một hoặc nhiều hơn một giả định cơ bản không đưa ra vào danh sách những tiên đề. Và lúc đó cũng dễ sửa: chỉ cần thêm tiên đề bị bỏ sót đó vào.

Gödel đã làm tan vỡ niềm tin này, và thay đổi vĩnh viễn sự hiểu biết của chúng ta về toán học. Định lý bất toàn của ông nói rằng bạn không bao giờ có thể tìm được đủ các tiên đề. Bạn có cẩn thận đến thế nào để cố gắng đảm bảo rằng bạn đã lập ra tất cả những giả định cơ bản, thì vẫn luôn có một số bài toán mà bạn không thể giải được. Tri thức toán học đã được định liệu sẵn phải duy trì mãi mãi sự không đầy đủ.

Thực tế, tình hình còn tệ hơn nữa. Gödel tiếp tục chỉ ra rằng một trong những bài toán bạn không thể giải được cho dù bạn có chọn được hệ tiên đề phù hợp hay không. Bạn không bao giờ có thể chắc rằng, trong khi lập những tiên đề của bạn, bạn không phạm sai lầm và đưa vào một số mâu thuẫn tinh vi.

Trước khi có kết quả của Gödel, mọi người thừa nhận rằng, không giống như những khoa học khác, toán học cung cấp sự chắc chắn tuyệt đối, và nó là con đường để đi đến tri thức hoàn hảo và xác thực. Đối với một số phạm vi, điều đó là đúng. Định lý Pitago về tam giác ngày nay vẫn đúng như nó được chứng mình lần đầu tiên từ 3000 năm về trước, và nó sẽ mãi mãi đúng. Một khi một nhà toán học đã chứng minh được cái gì đó, thì sự đúng đắn của nó sẽ là vĩnh cửu. (không giống như trường hợp của các khoa học khác, trong đó những lý thuyết luôn luôn bị sửa đổi hoặc thậm chí sụp đổ.) Tuy nhiên, những gì Gödel phát hiện ra là sự chắc chắn kiểu này không mở rộng ra cho mọi vấn đề toán học. Một số vượt ra khỏi phương pháp này. Nếu bạn cho rằng một lời tuyên bố như vậy là đúng, bạn chỉ phải đơn giản coi nó là một hành vi tin tưởng.

Như vậy, phát hiện của Gödel có thể được coi như là dấu chấm hết cho sự ngây thư trong toán học.

Lịch sử thuyết lượng tử Thứ Năm, Jun 4 2009 

Nguyên là chương hai trong Vật lý và Triết học của Werner Heisenberg (1958)

Biên dịch: Ngô Minh Tuấn



Nguồn gốc của thuyết lượng tử có liên quan đến một hiện tượng được nhiều người biết đến, nó không nằm ở trung tâm của vật lý nguyên tử. Bất kì một mẩu vật chất nào khi được đốt nóng đều bắt đầu phát sáng, có màu đỏ nóng hoặc màu trắng nóng khi đạt nhiệt độ cao. Màu sắc này không phụ thuộc nhiều lắm vào bề mặt của vật liệu, và đối với vật thể đen thì màu sắc này chỉ phụ thuộc vào nhiệt độ. Do đó, bức xạ do một vật thể đen phát ra ở nhiệt độ cao là một vật thể thích hợp cho nghiên cứu vật lý; đó là một hiện tượng đơn giản và lẽ ra có thể tìm được một lời giải thích đơn giản dưới dạng những quy luật phát xạ và nhiệt đã biết. Tuy nhiên, nỗ lực thực hiện điều này của Lord Rayleigh và Jeans vào cuối thế kỷ XIX đã gặp phải thất bại, và để lộ ra những khó khăn nghiêm trọng. Không thể mô tả những khó khăn này ở đây bằng những lời lẽ giản đơn được. Có thể nói rằng việc áp dụng những quy luật đã biết vào đây không đem lại những kết quả có thể nhận thức được. Khi Plank, vào năm 1895, bước vào con đường nghiên cứu vấn đề này ông đã cố gắng chuyển vấn đề từ sự phát xạ sang nguyên tử bức xạ. Việc chuyển đổi này không làm vơi bớt chút nào những khó khăn vốn cố hữu của vấn đề, nhưng nó làm đơn hóa cách hiểu những sự kiện kinh nghiệm. Cũng vào thời gian này, trong suốt mùa hè năm 1900, Curlbaum và Rubens ở Berlin đã thực hiện được một phép đo mới rất chính xác quang phổ của bức xạ nhiệt. Khi Plank nghe được những kết quả này ông đã cố trình bày chúng bằng những công thức toán học đơn giản nhìn hợp lý từ nghiên cứu của ông về mối liên hệ chung giữa nhiệt và bức xạ. Một ngày nọ Plank cùng Rubens ngồi uống trà ở nhà của Plank và đem so sánh những kết quả mới nhất của Rubens với một công thức mới do Plank đề xuất. Việc đối chiếu đã chỉ ra một sự tương đồng hoàn toàn. Đây là sự phát hiện ra định luật Plank về bức xạ nhiệt.

Đó cũng là thời kỳ bắt đầu công tác lý thuyết mạnh mẽ của Plank. Đâu là cách giải thích vật chất đúng đắn cho công thức mới đó? Từ khi Plank có thể, từ tác phẩm trước đó của ông, diễn dịch công thức của ông một cách dễ dàng thành một lời phát biểu về nguyên tử bức xạ (cái gọi là máy tạo dao động), ông hẳn phải sớm nhận ra rằng công thức mới của ông nhìn như thể máy tạo dao động chỉ có thể chứa đựng những lượng tử năng lượng rời rạc – một kết quả khác với bất cứ điều gì đã được biết đến trong vật lý cổ điển, mà ông chắc hẳn lúc đầu đã không tin vào điều đó. Nhưng trong một thời kỳ làm việc cao độ suốt mùa hè năm 1900 cuối cùng ông đã thuyết phục được bản thân rằng không có cách nào thể thoát khỏi kết luận này. Con trai của Plank kể lại rằng cha của anh đã nói với anh về ý tưởng mới của ông trong một cuộc tản bộ xuyên suốt Grunewald, khu rừng ở ngoại ô Berlin. Trong chuyến tản bộ này ông đã giải thích rằng ông cảm thấy có thể ông đã có một khám phá quan trọng bậc nhất, có lẽ chỉ có thể so sánh được với những phát hiện của Newton. Do vậy Plank trong thời kỳ này hẳn đã nhận ra rằng công thức của ông đã động chạm đến nền tảng của sự mô tả của chúng ta về tự nhiên, và rằng những nền tảng này một ngày nào đó sẽ bắt đầu chuyển từ vị trí truyền thống của nó hiện giờ lên một vị trí ổn định mới vẫn còn chưa biết. Plank, người bảo thủ trong toàn bộ quan điểm của mình, không thích cái hệ quả này chút nào, nhưng ông đã công bố giả thuyết lượng tử của mình vào tháng 12 năm 1900.

Ý tưởng cho rằng năng lượng có thể được phát ra hoặc hấp thụ chỉ theo những gói rời rạc quá ư mới mẻ đến nỗi nó không phù hợp với khuôn khổ truyền thống của vật lý. Plank đã cố gắng dung hòa giả thuyết mới của ông với những quy luật bức xạ trước kia và thất bại ở điểm cốt yếu. Bước tiếp theo theo chiều hướng này phải mất năm năm sau mới được bước tiếp.

Lần này là chàng trai trẻ Albert Einstein, một thiên tài mang tính cách mạng trong số những nhà vật lý, người đã không ngại ngần xông pha vào những miền xa xăm từ những khái niệm cổ điển. Có hai vấn đề trong đó ông có thể làm cho ý tưởng mới hữu dụng. Một là hiệu ứng quang điện, các miếng kim loại phát ra các electron dưới tác dụng của ánh sáng. Các thí nghiệm, đặc biệt là của Lenard, đã chỉ ra rằng năng lượng của các electron bứt ra không phụ thuộc vào cường độ của ánh sáng, mà chỉ phụ thuộc vào màu sắc của nó hay, chính xác hơn, tần số của nó. Không thể hiểu được hiện tượng này dựa trên nền tảng của lý thuyết bức xạ truyền thống. Einstein có thể giải thích những quan sát bằng này cách viện đến giả thuyết của Plank khi nói rằng ánh sáng đó bao gồm những bó năng lượng di chuyển trong không gian. Năng lượng của một bó ánh sáng, phù hợp với giả định của Plank, bằng tần số của ánh sáng đó nhân với hằng số Plank.

Vấn đề còn lại là tỷ nhiệt của những vật rắn. Lý thuyết truyền thống đem đến những giá trị của tỷ nhiệt phù hợp với những quan sát ở nhiệt độ cao nhưng lại sai khác với quan sát ở nhiệt độ thấp. Einstein lại một lần nữa chỉ ra rằng có thể hiểu được hành trạng này bằng cách áp dụng giả thuyết lượng tử vào những chuyển động bốc đồng của các nguyên tử trong vật thể rắn. Hai kết quả này đã đánh dấu một bước tiến bộ vô cùng quan trọng, kể từ khi họ khám phá ra sự hiện diện của lượng tử Plank trong hoạt động – như hằng số của ông được cộng đồng các nhà vật lý gọi như vậy – của một số hiện tượng, ngay tức thời thì không biết làm gì với bức xạ nhiệt. Họ đồng thời khám phá ra tính cách mạng sâu sắc của giả thuyết mới, từ khi người đầu tiên trong số họ đem đến một cách miểu tả ánh sáng hoàn toàn khác so với bức tranh sóng truyền thống. Ánh sáng vừa có thể được hiểu là bao gồm những sóng điện từ, theo như lý thuyết của Maxell, hoặc là bao gồm những lượng tử, những gói năng lượng di chuyển trong không gian với vận tốc rất lớn. Nhưng liệu nó có thể là cả hai không? Tất nhiên Einstein biết rằng hiện tượng nhiễu xạ và giao thoa được mọi người biết đến có thể được giải thích chỉ trên nền tảng quang cảnh sóng. Ông không thể tranh luận gì về sự mâu thuẫn hoàn toàn giữa bức tranh sóng với ý tưởng về lượng tử ánh sáng; ông thậm chí cũng không cố gắng loại bỏ sự mâu thuẫn này trong cách giải thích. Ông đơn giản chỉ coi sự mâu thuẫn này như là cái gì đó chắc chắn rất lâu sau này sẽ được hiểu rõ.

Trong lúc ấy những cuộc thí nghiệm của Becquerel, Curie và Rutherford đã đem đến một sự gạn lọc sáng tỏ liên quan đến cấu trúc của hạt nhân. Năm 1911 những quan sát của Rutherford về sự tương tác của những tia – α xuyên qua vật chất dẫn đến kết quả là mô hình nổi tiếng của ông về nguyên tử. Nguyên tử được vẽ ra gồm có một hạt nhân, tích điện dương và chiếm gần toàn bộ tổng khối lượng của nguyên tử, với các electron, quay xung quanh hạt nhân giống như những hành tinh quay xung quanh Mặt trời. Sự liên kết hóa học giữa các nguyên tử của các nguyên tố khác nhau được giải thích là một tương tác giữa những electron lớp ngoài của các nguyên tử cạnh nhau; nó không làm gì trực tiếp đụng đến các hạt nhận nguyên tử. Hạt nhân quyết định hành trạng hóa học của nguyên tử thông qua tích điện của nó phù hợp với số electron trong một nguyên tử trung hòa. Lúc đầu mô hình nguyên tử này không thể giải thích được hầu hết các đặc trưng tiêu biểu của nguyên tử, sự ổn định vô cùng của nó. Không có hệ thống hành tinh nào theo các quy luật cơ giới của Newton lại có thể luôn trở về cấu hình nguyên thủy của nó sau khi va chạm với hệ thống khác như vậy. Nhưng một nguyên tử của nguyên tố Carbon, chẳng hạn, sẽ vẫn duy trì một nguyên tử carbon sau vụ va chạm bất kỳ hoặc sau một tương tác trong liên kết hóa học.

Lời giải thích cho sự ổn định khác thường này được Bohr đưa ra vào năm 1913, sau khi áp dụng giả thuyết lượng tử của Plank. Nếu như nguyên tử chỉ có thể thay đổi năng lượng của nó theo những lượng tử năng lượng rời rạc, thì điều này có nghĩa là nguyên tử chỉ có thể tồn tại ở những trạng thái dừng riêng rẽ, trạng thái dừng thấp nhất là trạng thái thông thường của nguyên tử. Do đó, sau bất cứ kiểu tương tác nào nguyên tử sau cùng cũng sẽ luôn trở về trạng thái thông thường của nó.

Bằng sự áp dụng này lý thuyết lượng tử vào mô hình nguyên tử, Bohr không những có thể giải thích sự bền vững của nguyên tử mà còn, trong một số trường hợp đơn giản, đưa ra một lý giải mang tính lý thuyết đối với vạch quang phổ phát ra bởi các nguyên tử sau khi bị kích thích bởi sự phóng điện hoặc nhiệt. Lý thuyết của ông dựa trên sự kết hợp chuyển động cơ học cổ điển của các electron với những electron có tính đến những trạng thái lượng tử, bị áp đặt lên những chuyển động cổ điển đối với việc xác định những trạng thái dừng riêng rẽ của hệ thống. Một sự công thức hóa toán học phù hợp với những trạng thái lượng tử đó được Sommerfeld trình bày sau này. Bohr đã nhận ra ngay sự thực là những trạng thái lượng tử theo một số cách nào đó đã phá hủy tính kiên định của cơ học Newton. Trong trường hợp đơn giản của nguyên tử hidro có thể tính toán được theo lý thuyết của Bohr tần số của ánh sáng do nguyên tử này phát ra, và nhất trí hoàn hảo với quan sát.

Nguồn gốc của người hiện đại Thứ Năm, Jun 4 2009 

Nguồn gốc của người hiện đại

Từ khắp nơi hay chỉ riêng Châu Phi?

By Donald Johanson

Dịch: Ngô Minh Tuấn


Khoảng 30.000 năm trước đây loài người về phương diện giải phẫu và hành vi đã gần giống như nhau trên toàn thế giới.

Một trong những vấn đề gây tranh cãi quyết liệt nhất trong nguồn gốc nhân lại học (nghiên cứu về nguồn gốc phát sinh loài người) là nguồn gốc của người hiện đại, Homo sapiens. Gần 100.000 năm trước đây, Thế giới Cổ đại về phương diện sinh thái có nhiều nhóm khác nhau thuộc họ người. Ở châu Phi và vùng Trung Đông có người Homo sapiens; Ở châu Á, Homo arectus; và ở châu Âu, Homo neanderthalensis. Tuy nhiên, tới thời điểm 30.000 năm trước tính đa dạng trong sự phân loại này đã biến mất và con người ở khắp mọi nơi đã tiến hóa thành dạng hiện đại về phương diện giải phẫu và hành vi. Bản chất của sự biến đổi này là tiêu điểm của một cuộc tranh cãi lớn giữa hai trường phái tư tưởng: một trường phái nhấn mạnh tính liên tục đa miền và trường phái kia đề nghị chỉ một vùng duy nhất phát sinh người hiện đại.

Lý thuyết đa miền: homo erectus rời châu Phi 2 mya trở thành homo sapiens trong những vùng khác nhau trên thế giới.

Mô hình liên tục đa miền cho rằng sau khi Homo erectus rời châu Phi và phân tán vào các phần khác nhau của Thế giới Cổ đại, dân cư ở các vùng đó tiến hóa dần dần thành người hiện đại. Mô hình này gồm những phần sau đây:

  • một số mức độ của gien trong số những dân cư tách biệt nhau về phương diện địa lý ngăn cản sự hình thành loài, sau khi phân tán.
  • tất cả người đang sống hiện nay đều bắt nguồn từ Homo erectus rời châu Phi cách đây gần 2 triệu năm
  • chọn lọc tự nhiên trong các vùng dân cư, suốt từ thời điểm phân tán, là nguyên nhân gây ra biến thể vùng (đôi khi gọi là loài) mà chúng ta thấy ngày nay.
  • sự xuất hiện Homo sapiens không bị giới chỉ ở một vùng nào bất kỳ, mà là một hiện tượng xuất hiện khắp nơi trong dải địa lý mà con người sinh sống.

Lý thuyết duy nhất từ châu Phi: homo sapiens xuất hiện ở châu Phi và di cư qua các miền khác nhau của thế giới và thay thế những loài khác trong họ người, kể cả homo erectus.

Ngược lại, mô hình duy nhất từ châu Phi khẳng định rằng người hiện đại tiến hóa tương đối gần đây ở châu Phi, di cư qua Eurasia và thay thế tất cả dân cư có nguồn gốc từ Homo erectus. Phê phán mô hình này bao gồm những chủ nghĩa sau:

  • sau khi homo erectus di cư ra khỏi châu Phi những dân cư khác nhau trở nên biệt lập về phương diện sinh sản, tiến hóa độc lập , và trong một số trường hợp giống như người Neanderthals, thành những loài riêng biệt.
  • Homo sapiens xuất hiện ở một nơi, có lẽ là ở châu Phi (về địa lý thì vùng này gồm cả Trung Đông)
  • Homo sapiens sau cùng di cư ra khỏi châu Phi và thay thế nhưng dân cư người khác, mà không có sự sinh sản nối tiếp.
  • biến thể người hiện đại là một hiện tượng mới xảy ra tương đối gần đây

Quan điểm đa miền thừa nhận rằng gien của tất cả dân cư người trong Thế giới Cổ đại theo các miền khác nhau và bằng cách trộn lẫn với nhau, góp phần tạo nên cái mà chúng ta thấy ngày nay là con người hiện đại đầy đủ. Giả thuyết thay thế đề nghị rằng gien của người hiện đại đầy đủ là có nguồn gốc từ châu Phi. Khi những người đó di cư họ thay thế tất cả các cộng đồng người khác mà rất ít hoặc không sinh sản nối tiếp.

Để hiểu cuộc tranh luận này, những chứng cứ về giải phẫu học, khảo cổ học, gien học cần phải được đánh giá.

Kurt Gödel Thứ Năm, Jun 4 2009 


Article by: J J O’ConnorE F Robertson

Biên dịch: Ngô Minh Tuấn


Sinh: 28/04/1906 ở Brünn, Austria-Hungary (nay là Brno, Cộng hòa Czech)

Mất: 14 tháng giêng năm 1978, ở Princeton, New Jersey, USA


Cha của Kurt Gödel là Rudolf Gödel, gia đình của ông chuyển đến từ Vienna. Rudolf thời trẻ không đi xa trong những nghiên cứu hàn lâm, mà trở thành giám đốc điều hành và là đồng sở hữu một xưởng dệt lớn ở Brünn. Mẹ của Kurt, Marianne Handschuh, đến từ Rhineland và là con gái của Gustav Handschuh người cũng có liên quan đến xưởng dệt ở Brünn. Rudolf lớn hơn Marianne 14 tuổi, không giống như Rudolf, cô hấp thụ một nền giáo dục văn chương và đã từng đảm trách một số nghiên cứu nghề nghiệp ở Pháp. Rudolf và Marianne Gödel có hai đứa con, đều là con trai. Đứa lớn hơn là Rudolf đặt theo tên cha, và đứa nhỏ hơn là Kurt.

Kurt có một tuổi thơ khá êm ấm. Cậu dành cả ngày quấn quýt với mẹ nhưng trở nên nhút nhát và không yên những khi mẹ vắng nhà. Năm lên sáu ông bị sốt thấp khớp, nhưng sau khi khỏi bệnh cuộc sống của ông lại như trước. Tuy nhiên, khi tám tuổi ông bắt đầu đọc sách y học về căn bệnh mà ông đã mắc phải, và học được rằng một trái tim yếu ớt sẽ dễ dẫn đến những rắc rối. Mặc dù không có bằng chứng nào cho thấy ông có một trái tim yếu, Kurt lại trở nên đoan chắc rằng mình có, và mối lo lắng về sức khỏe đã trở thành thường ngày đối với ông.

Kurt vào học ở Brünn, hoàn thành xong học vấn trên trường vào năm 1923. Anh Rudolf của cậu nói:-

Ngay cả khi ở trường trung học em trai tôi đã có phần nào đó vượt trội hơn tôi và làm kinh ngạc những thầy giáo cùng những nghiên cứu sinh chuyên ngành toán học ở đại học khi nó kết thúc những năm cuối trung học… Toán học và ngôn ngữ đạt được trên quá xa văn học và lịch sử. Vào lúc đó có lời đồn đại rằng trong suốt thời gian trung học môn tiếng Latinh cậu ấy không những luôn đạt điểm cao nhất mà còn không hề mắc phải một lỗi ngữ pháp nào.

Gödel vào đại học ở Vienna năm 1923 trong khi vẫn chưa quyết định được dứt khoát xem mình muốn học chuyên về toán học hay vật lý lý thuyết. Thầy dậy của ông là Furtwängler, Hahn, Wirtinger, Menger, Helly và những người khác. Những bài giảng của Furtwängler gây ấn tượng nhất đối với Gödel và vì chúng mà ông quyết định chọn toán học làm môn học chính. Có hai lý do: Furtwängler là một nhà toán học và là một người thầy nổi tiếng, nhưng thêm vào đó ông bị liệt từ cổ trở xuống vì vậy ông ngồi trên xe lăn giảng bài với một người phụ tá viết bài giảng của ông lên bảng. Điều này gây ấn tượng rất lớn đối với bất cứ một sinh viên nào, nhưng đối với Gödel người vô cùng quan tâm đến sức khỏe của mình, nó có một tác động thật lớn lao. Khi còn chưa tốt nghiệp Gödel đã tham gia vào một buổi seminar của Schlick nói về cuốn sách Giới thiệu về triết học toán học của Russell. Olga Taussky-Todd, một sinh viên đồng khóa của Gödel’s viết:-

Rõ ràng một cách chậm rãi là ông dần dần trở nên gắn chặt với logic, rằng ông là sinh viên của Hahn chứ không phải là của Schlick, rằng ông là một tài năng lỗi lạc. Phương lối cứu thoát của ông đã vượt quá sự mong đợi.

Ông hoàn thành luận văn tiến sĩ của mình dưới sự dìu dắt của Hahn vào năm 1929 trình bày một luận đề chứng minh tính chất đầy đủ của hàm vi phân bậc nhất. Ông trở thành một thành viên của đại học Vienna năm 1930, ở đó ông là hội viên của chủ nghĩa thực chứng logic cho tới năm 1938. Cha của Gödel mất vào năm 1929 và, công việc kinh doanh của ông rất thành đạt, đã để lại cho gia đình một khoản tài chính đảm bảo. Sau cái chết của chồng, mẹ của Gödel tậu một căn hộ lớn ở Vienna và cả hai người con trai sống với mẹ ở đó. Vào lúc này anh trai của Gödel là một bắc sĩ X quang thành đạt. Chúng ta đã nói đến ở trên rằng mẹ Gödel có một nền giáo dục văn chương và giờ đây bà đã có thể tận hưởng nền văn hóa của Vienna, đặc biệt là với kịch bản mà Rudolf và Kurt phụ thêm vào.

Gödel được biết đến nhiều nhất là qua chứng minh của ông về “Lý thuyết bất toàn Gödel”. Năm 1931 ông trình bày những kết quả đó trong Über formal unentscheidbare Sätze der Principia Mathematica und verwandter Systeme. Ông đã chứng minh những kết quả nền tảng về các hệ tiên đề, chỉ ra rằng trong bất cứ một hệ tiên đề nào cũng có những định đề (giả định-ND) không thể được chứng minh hoặc bác bỏ với nội những tiên đề trong hệ đó. Điều này kết thúc một trăm năm nỗ lực nhằm thiết lập nên một hệ tiên đề cơ bản cấu thành toàn bộ toán học. Một nỗ lực đáng chú ý là của Bertrand Russell với Principia Mathematica (1910-13). Một nỗ lực đáng chú ý khác là chủ nghĩa hình thức của Hilbert, đã bị những kết quả của Gödel dáng cho một cú trời đánh. Lý thuyết này không phá hủy ý tưởng nền tảng của chủ nghĩa hình thức, mà nó chứng tỏ rằng một hệ thống bất kỳ cũng sẽ bao trùm toàn diện hơn những gì Hilbert dự tính. Những kết quả của Gödel là một bước ngoặt trong toán học thế kỷ XX, chỉ ra rằng toán học không phải là một môn kết thúc, như nó đã được tin. Nó cũng ngụ ý rằng một máy tính sẽ không bao giờ có thể trả lời tất cả mọi câu hỏi toán học.

Gödel gặp Zermelo ở Bad Elster năm 1931. Olga Taussky-Todd, cũng có mặt trong buổi gặp đó, viết:-

Rắc rối với Zermelo là ông ta cho rằng tự bản thân ông ta đã đạt được kết quả đáng khâm phục của Gödel. Scholz nghĩ rằng có lẽ đây cũng là điều thực sự xảy ra, nhưng ông đã không loan báo điều đó và có lẽ sẽ không bao giờ làm vậy.. Cuộc gặp gỡ thân mật giữa Zermelo và Gödel tại Bad Elster đã không phải là một sự bắt đầu một tình bạn khoa học giữa hai logic gia.

Đệ trình bài báo của ông về tính bất toàn lên đại học ở Vienna để có đủ tư cách, bài báo này đã được Hahn chấp thuận vào 1/12/1932. Gödel trở thành một Privatdozent tại đại học ở Vienna vào tháng 3 năm 1933.

Năm 1933 này chính là năm Hitler lên nắm chính quyền. Thoạt tiên không có ảnh hưởng gì đến cuộc sống của Gödel ở Vienna; ông ít hứng thú với chính trị. Năm 1934 Gödel giảng một loạt bài tại Princeton Về những định đề không thể xác định được của những hệ toán học hình thức. Theo đề nghị của Veblen, Kleene, người vừa hoàn thành luận văn tiến sĩ triết học tại Princeton, đã ghi chép lại những bài giảng này rồi sau đó những ghi chép này được xuất bản. Tuy nhiên, Gödel đã phải chịu một cơn suy nhược thần kinh khi ông trở về châu Âu và đã điện thoại cho anh Rudolf của ông ở Paris nói rằng ông đang bị ốm. Ông phải đi điều trị bác sĩ tâm thần và trải qua vài tháng trong viện điều dưỡng phục hồi sau tình trạng suy sụp.

Mặc dù có vấn đề về sức khỏe, những nghiên cứu của Gödel vẫn tiến triển tốt và ông đã chứng minh những kết quả quan trọng về tính kiên định của tiên đề lựa chọn với những tiên đề khác của lý thuyết nhóm vào năm 1935. Tuy nhiên sau khi Schlick, người mà buổi seminar của ông đã gieo trong Gödel niềm hứng thú với logic, đã bị giết bởi một sinh viên Chủ nghĩa xã hội Dân tộc năm 1936, Gödel đã bị ám ảnh nhiều và lại bị suy sụp. Anh Rudolf của ông viết:-

Sự kiện này chắc chắn là lý do tại sao đôi lúc em trai tôi trải qua một cơn khủng hoảng thần kinh nặng nề, nó chắn chắn là mối lo âu lớn nhất đối với em trai tôi. Ngay sau khi hồi phục nó đã nhận được lời mời đầu tiên từ một vị giáo sư ký sinh vật ở Mỹ.

Ông đến thăm Göttingen vào mùa hè năm 1938, giảng ở đó nghiên cứu về lý thuyết nhóm của ông. Ông trở lại Vienna và cưới Adele Porkert vào mùa thu năm 1938. Thực ra ông đã gặp bà từ năm 1927 tại câu lạc bộ đêm Der Nachtfalter ở Vienna. Bà lớn hơn Gödel sáu tuổi và đã có chồng trước đó rồi, gia đình hai bên, mà nhất là bố của ông, đã phản đối ý kiến kết hôn của hai người. Bà không phải là cô gái đầu tiên bố mẹ Gödel phản đối, cô gái đầu tiên ông gặp trong thời gian ông đến trường đại học và lớn hơn ông 10 tuổi.

Vào tháng 3 năm 1938 Austria trở thành một phần của Đức nhưng Gödel không hứng thú lắm và cuộc sống của ông vẫn tiếp diễn như bình thường. Ông đến thăm Princeton lần thứ hai, trải qua học kỳ đầu của năm học 1938-39 tại Viện nghiên cứu Cao cấp. Học kỳ hai của năm đó ông đã có một đợt giảng tuyệt vời ở Notre Dame. Hầu hết những người nắm các vị trí chóp bu privatdozent ở Austria trở nên được trả lương cho các bài giảng sau khi quốc gia này trở thành một phần của Đức nhưng Gödel thì không và đơn xin ông nộp vào 25 tháng 9 năm 1939 nhận được một câu trả lời hờ hững. Dường như là vì người ta nghĩ ông là người Do Thái, nhưng thực ra điều này hoàn toàn sai, mặc dù ông ông có nhiều bạn là người Do Thái. Những người khác cũng hiểu lầm ông là người Do Thái, và ông đã một lần bị một nhóm thanh niên trẻ tấn công, chúng tin rằng ông là một tên Do Thái, trong khi đang đi tản bộ cùng vợ ở Vienna.

Khi chiến tranh bắt đầu Gödel sợ rằng ông có thể bị kêu gọi đi nghĩa vụ trong hàng ngũ quân đội Đức. Tất nhiên ông cũng tin chắc rằng sức khỏe của ông rất yếu để phục vụ trong quân đội, nhưng nếu ông có thể bị hiểu lầm là một người Do Thái thì ông cũng có thể bị hiểu lầm là một người khỏe mạnh. Ông không chuẩn bị để đón chờ điều rủi ro này, và sau một thời gian dàn xếp dài để kiếm được một tấm visa Mỹ ông đã may mắn lại có thể được trở lại Mỹ, mặc dù ông đã phải đi qua Nga và Nhật bản để đến được Mỹ. Vợ ông cùng đi với ông.

Năm 1940 Gödel đến Mỹ, trở thành một công dân Mỹ năm 1948 (trên thực tế ông tin rằng mình đã tìm được một lỗi mâu thuẫn ở trong bản Hiến pháp Mỹ, nhưng viên thẩm phán có nhiều thông minh hơn là ngồi lắng nghe ông trong suốt buổi phỏng vấn!). Ông là một thành viên thông thường của Viện Nghiên cứu Cao cấp từ năm 1940 đến năm 1946 (nắm giữ lâu năm chức vụ mà đáng lẽ ra phải được thay mới lại mỗi năm), sau đó là một thành viên thường trực cho đến năm 1953. Ông giữ chức giáo sư ở Princeton tứ năm 1953 cho đến khi mất, nắm giữ một giao kèo dứt khoát bắt đầu giải phóng ông khỏi mọi nhiệm vụ giảng dậy. Một trong những tình bạn thân nhất của Gödel là với Einstein. Họ đánh giá về nhau rất cao và thường xuyên trò chuyện cùng nhau. Không rõ là Einstein ảnh hưởng đến Gödel về thuyết tương đối nhiều đến mức nào, nhưng sự thực là Gödel có cống hiến vào đề tài này.

Ông nhận được giải thưởng Einstein vawo năm 1951, và Huân chương Quốc gia về khoa học vào năm 1974. Ông là một thành viên của Viện Hàn lâm khoa học Quốc gia của Mỹ, hội viên của Học hội Hoàng gia, thành viên của Học viện Pháp, hội viên Viện hàn lâm hoàng gia và là thành viên danh dự của Hội toán học London. Tuy nhiên, có nhiều điều đáng nói về cảm nhận của ông đối với Austria khi ông từ chối là thành viên của Viện hàn lâm khoa học ở Vienna, sau đó khi ông được đắc cử là thành viên danh dự một lần nữa ông cũng lại từ chối vinh dự này. Cũng từ chối không chấp nhận Huân chương Quốc gia cao nhất cho thành tựu khoa học và nghệ thuật mà Austria rao cho ông. Ông tất nhiên cảm thấy đau xót vì cách đối xử của ông nhưng đó cũng là những gì gia đình ông phải chịu.

Mẹ của Gödel rời Vienna trước ông, năm 1937 bà quay lại căn biệt thự của bà ở Brno nơi bà công khai phê phán chế độ Xã hội chủ nghĩa Dân tộc. Anh trai Rudolf của Gödel vẫn ở lại Vienna nhưng đến năm 1944 vừa mong chờ sự thất bại của Đức, và mẹ của Rudolf đã đến ở với Rudolf ở Vienna. Trong điều ước thỏa thuận đàm phán sau chiến tranh giữa Austria và Czechs, bà nhận được một phần mười giá trị căn biệt thự của bà ở Brno. Sự thiếu công bằng đó làm Gödel tức điên lên; thực tế thì ông luôn ghi nhớ sự bất công đó trong đầu mặc dù nhiều người khác cũng phải chịu như vậy.

Sau khi ổn định ở Mỹ, Gödel lại tiếp tục hoàn thành tác phẩm quan trọng bậc nhất. Kiệt tác của ông Tính bất biến của tiên đề lựa chọn và của những giả thuyết liên tục mở rộng với những tiên đề của lý thuyết nhóm (1940) là một mẫu mực của toán học hiện đại. Trong đó ông chứng minh rằng nếu một hệ tiên đề của lý thuyết nhóm theo kiểu được đề xuất bởi RussellWhitehead trong Những nguyên lý toán học là bất biến, nó sẽ giữ nguyên như vậy khi thêm tiên đề lựa chọn và những giả thuyết liên tục mở rộng vào hệ thống. Điều này không xác nhận rằng những tiên đề này là độc lập với những tiên đề khác của lý thuyết nhóm, nhưng khi sự độc lập này sau cùng được chứng minh bởi Cohen vào năm 1963 thì ông ta dựa trên những ý tưởng này của Gödel.

Nỗi lo âu về sức khỏe tăng lên cùng năm tháng đối với Gödel. Rudolf, anh trai Gödel, là một bác sĩ y khoa và vì vậy những chi tiết y khoa mà ông kể ra sau đây chắc hẳn phải chính xác. Ông viết:-

Em trai tôi có một quan điểm vô cùng đặc biệt và cố hữu về mọi thứ và khó mà có thể tin khác đi được. Không may thay là cậu ấy trong suốt cuộc đời đều tin là mình luôn đúng không chỉ trong toán học mà còn cả trong y học nữa, vì vậy cậu ấy là một bệnh nhân rất khó chịu đối với các bác sĩ. Sau khi bị mất máu rất nhiều từ một chỗ loét tá tràng .. trong suốt cuộc đời còn lại cậu ấy đã giữ một chế độ ăn kiêng cực kỳ nghiêm khắc (trên cả nghiêm khắc?) mà đó lại là nguyên nhân làm cậu ấy xuống cân.

Adele, vợ của Gödel hỗ trợ ông rất nhiều và bà làm nhiều thứ để xua đi những căng thẳng của chồng bà. Tuy nhiên bản thân bà lại bắt đầu có vấn đề về sức khỏe, bà bị đột quỵ hai lần và phẫu thuật một lần. Về cuối đời Gödel trở nên tin rằng ông đang bị nhiễm độc và, bỏ ăn để tránh khỏi bị đầu độc, về cơ bản thì ông chết vì đói:-

Một người yếu ớt và rất khó tính, Gödel thường lo lắng về sức khỏe của ông và không đi du lịch hay giảng bài khắp nơi trong những năm về sau này. Ông không có sinh viên tiến sĩ nào, nhưng qua thư từ và giao tiếp cá nhân với những vị khách đến Princeton liên miên không ngớt, nhiều người đã được lợi từ bộ óc cực kỳ nhanh nhẹn và sắc bén của ông. Là bạn với Einstein, Von Neumann và Morgenstern, ông đặc biệt yêu thích thảo luận triết học.

Ông mất:-

.. khi đang ngồi trên một chiếc ghế trong phòng bệnh của ông ở Princeton, vào buổi chiều ngày 14 tháng giêng năm 1978.

Cũng công bằng khi nói rằng những ý tưởng của Gödel đã thay đổi hướng đi của toán học:-

… dường như rõ ràng rằng những thành quả từ ý tưởng của ông sẽ tiếp tục khuyến khích những tác phẩm mới. Một số nhà toán học đã công nhận tính bất tử này.

Smith, Adam (1723-1790) (P.1) Thứ Năm, Jun 4 2009 


Biên dịch: Ngô Minh Tuấn

Nhà kinh tế người Scot-len. Được coi là người sáng lập ra kinh tế học cổ điển, Smith là người đầu tiên đưa ra một học thuyết hiểu biết trọn vẹn về chính trị kinh tế học. Smith lấy lao động là đơn nguyên duy nhất để đo lường giá trị.

Lao động là đơn vị đo lường chân chính nhất giá trị trao đổi của các hàng hóa. Giá cả thực chất của mọi thứ, mà người ta phải chi trả để có được nó, chính là sự lao động vất vả và cực nhọc để làm ra nó. Tất cả mọi cái thực sự đáng giá đối với những người muốn có nó, và những người muốn trao nó đi hay đổi nó lấy một cái khác, chính là sự vất vả và cực nhọc mà nó có thể ém vào bản thân mình, và đó là cái có thể áp đặt lên những người khác…Lao động tự nó, do dó, không bao giờ thay đổi giá trị của nó, một mình là tiêu chuẩn sau chót và chân chính nhất để xác định giá trị của tất cả các hàng hóa tại mọi nơi, mọi lúc bằng ước lượng và so sánh. Đó là giá trị thực của chúng; tiền chỉ là giá trị danh nghĩa.

Sự giàu có của các quốc gia, 1976

Adam Smith là người đầu tiên trình bày một cách có hệ thống quan điểm cho rằng giá trị của hàng hóa không phải được xác định bởi giá trị sử dụng mà là bởi giá trị trao đổi của chúng. Theo quan điểm này thì giá cả thị trường sẽ điều chỉnh giá cả chi phí. Adam Smith phản đối sự can thiệp của nhà nước (như thuế quan, hàng rào xuất và nhập khẩu…). Lý thuyết của ông là tự do thương mại điển hình cho giai cấp tư sản, chống lại tư tưởng phong kiến phản động của lớp quý tộc cũ vốn đã có từ trước. Ông có ảnh hưởng chủ yếu đến kinh tế chính trị học những năm cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19.

Một thời gian dài làm bạn với David Hume và là một trong những thành viên “khai sáng Scot-lan”, Smith cũng quen biết với Voltaire và các nhà khai sáng Pháp khác. Smith cho biết ông đã đi đến lý luận về kinh tế chính trị học được trình bày trong cuốn Sự giàu có của các quốc gia (The Wealth of Nations) trong quá trình nghiên cứu về “bản chất của con người” và suy ngẫm kĩ lưỡng về những cảm xúc mạnh mẽ bẩm sinh của con người bị biến đổi trong quá trình hợp tác sản xuất xã hội ở trong các chính sách tự do kinh doanh tư bản chủ nghĩa. Phù hợp với lý luận về nhận thức của David Hume, Snith coi giá trị là sản phẩm của riêng quá trình lao động của con người, mà lao động của con người lại có nguồn gốc từ bản chất của con người. Sự hình thành xã hội và phân công lao động về phương diện lịch sử xuất hiện một cách độc lập với ý chí và hiểu biết của con người, và là do kết quả tự nhiên của những mâu thuẫn cá nhân chủ nghĩa trong xã hội. Smith đã viết tác phẩm này trong những ngày rất sớm của cuộc cách mạng công nghiệp, nhưng nó không có quy mô to lớn, các hãng công nghiệp như trong bối cảnh Smith đặt ra, đúng hơn là, Smith đại diện cho nền tiểu sản xuất trong những ngày đầu của thế kỉ 18.

Think about Life Thứ Năm, Jun 4 2009 

Article by Ngô Minh Tuấn

Cuộc sống là thế nào nhỉ? Nó phức tạp và luôn chồng chéo những mâu thuẫn, và bản thân ta theo đó cũng luôn bị phức tạp và mâu thuẫn theo. Một đời người trung bình sống được khoảng 60-70 năm. Ai đó cho rằng thời gian đó là dài, ai đó quan niệm nó là ngắn, tôi theo quan niệm sau, nó là ngắn.

Khi đi học, có một điều rất dễ nhận thấy, là nếu ta đặt mục tiêu được điểm 10 thì điểm 8 đối với ta dường như dễ đạt được hơn, còn khi mục tiêu là điểm 8, thì đạt được điểm 8 đó dường như sẽ khó hơn nhiều. Cũng như vậy, con người sống phải có mục tiêu, chí ít nó cũng phải tồn tại ở dạng phôi thai là những ước mơ. Không có ước mơ thì theo lời người sáng lập ra tập đoàn Daewoo cũng như con thuyền không có bánh lái, và trôi đi đâu là tùy vào hướng chảy của dòng nước. Cảm nhận sơ qua thì câu nói này có vẻ đúng, và dường ai cũng sẽ đồng tình với nó. Nhưng sự đồng tình này, nhiều khi lại chỉ trên lời nói, điều này cũng dễ hiểu. Cũng như con thuyền, nếu nó ở gần một dòng thác, thì ta nào dám buông tay chèo, nhưng khi nó ở tận xa nơi đâu đó mà bên cạnh dòng nước trôi lững lờ thì xung quanh chỉ là khung cảnh phẳng lặng, lúc ấy chúng ta có lẽ muốn được hưởng cái cảm giác thư thái, và có vấn để gì đâu mà không vất tay chèo xuôi theo dòng nước. Vậy đấy, chúng ta không cảm nhận ngay được sự nguy hiểm của việc vất tay chèo, bởi vì ngay lập tức khi vất nó ta không phải đối mặt với những hiểm họa mà cuộc sống luôn trực chờ ném vào ta, và dù biết điều đó là nguy hiểm, nhưng chúng ta vẫn bị cái cảm giác an bình hiện tại lấn át. Cho đến khi con thuyền đến ven bờ thác, khi mà mọi cố gắng tột cùng của chúng ta đều không thể cưỡng lại sức cuốn của dòng thác dữ dội đưa chúng ta vào bến tử thần, thì lúc này chúng ta ray rứt, hối hận, tự trách mình đã buông lơi và rồi hàng loạt những giá như, giá như …xếp chồng chéo lên nhau mà chui ra. Chúng ta đối phó với việc đã rồi bằng những lời oán thán bản thân, và như vậy mà mong giải quyết được vấn đề thì đó là điều ngây thơ nhất thế gian.

Thế nhưng hãy thử tưởng tượng rằng dòng thác ấy, tuy hung dữ trên mặt, nhưng lại rất đỗi hiền từ, và nó đã tha cho chúng ta lần này. Tiếp tục xuôi theo dòng nước, chúng ta thở phào nhẹ nhõm vì điều may mắn đã xảy ra. Hãy vui vì ta tiếp tục được sống, nhưng nhịp tim như trống đánh lại khiến cho ta một lần cảnh tỉnh, phù…. thật may mắn, lần sau phải cảnh giác hơn mới được, nhất định không được để vào thế đã rồi như lần này. Chúng ta lấy hết sức cảnh giác, nắm chặt tay chèo vào chèo một cách thận trọng. Thời gian qua đi, sự êm ả lại làm cho chúng ta muốn đánh đổi cảm giác thận trọng căng thẳng lấy sự nghỉ ngơi thanh thản, và tội gì mà không làm, tội gì không đánh đổi, dù rằng khi đánh đổi chúng ta bứt rứt lắm, day dứt lắm, nhưng rồi, một lần nữa, khung cảnh yên bình hiện thời đã thắng..

Cuộc sống là một chuỗi những êm ả và hiểm nguy xen lẫn nhau như vậy, và nếu như chúng ta không thể hy sinh những cảm giác thư thái hiện tại để đổi lấy những điều to lớn hơn trong tương lai, thì hết lần này đến lần khác, chúng ta sẽ phải sống với nỗi niềm ân hận và ray rứt triền miên mà thôi. Chúng ta mong thoát ra khỏi nó ư, chúng ta muốn chúng ta mạnh mẽ hơn ư, bằng cách nào đây? Bằng cách là chúng ta trở thành người khác sau mỗi lần rớt thác ư, để rồi sau đó lại ai về nhà nấy? Đây hoàn toàn không phải là việc xử lý một vấn đề phái sinh, nó là vấn đề từ tận gốc rễ, cái gốc đã sai rồi thì không khi nào có thể mong rằng trên đó lại mọc ra những thứ đúng đắn được. Sự phê bình mà đôi khi chúng ta gặp phải, nó là một hành động kiên quyết để bác bỏ mọi ý định nhằm vẫn còn duy trì cái gốc đó. Phủ định biện chứng ư, hãy nói cho trúng, bởi lẽ trên cái nguyên tắc là có những cái phải giữ lại, có những cái phải thay đổi, thì cũng là một sự mở đường tốt cho việc giữ lại mọi cái và dung nạp thêm chút gì đó mới, và rồi khi đó cái cũ kia với sự ăn sâu bám rễ của nó, sẽ mãi cứ duy trì và phát huy rõ uy lực của nó đối với một vài cái mới lẻ tẻ, thì cái mới đó chỉ có nước sẽ phải tiêu tan dần dần trong sự bất lực thảm hại của nó. Và mọi chuyện lại trở về điểm xuất phát..

Chúng ta đều chấp nhận là một lời nói thì rất không đủ để đánh giá một con người, và tất nhiên, chả ai dại gì mà đi túm lấy những câu nói đó để đánh giá. Sự phê bình ở đây là theo một phương diện khác, khác hoàn toàn…

Karl Marx (P.2) Thứ Năm, Jun 4 2009 

Bien dich: Ngo Minh Tuan

Tiểu sử

Karl Heinrich Marx sinh ra là con thứ ba trong một gia đình Do Thái bảy người con ở Trier, trong Vương quốc các tỉnh thuộc Phổ vùng Hạ Rhine. Cha của ông Heinrich (1777-1838), có nguồn gốc nhiều đời là Giáo sĩ Do Thái giáo, đã chuyển sang theo đạo Cơ – Đốc, bất chấp những khuynh hướng thần luận và sự ca tụng những nhân vật Khai sáng như Voltaire và Rousseau của ông. Cha của Marx trên thực tế được sinh ra bởi Herschel Mordechai, nhưng khi những người có quyền thế ở Phổ không cho phép ông tiếp tục hành nghề luật sư với tư cách là người Do Thái, thì ông đã gia nhập giáo phái chính thức của Nhà nước Phổ, học thuyết Lu-the, điều đó làm cho ông có những lợi thế, là một trong thiểu số nhỏ những người theo thuyết Lu-the trong một vùng chủ yếu là đạo Thiên chúa giáo La Mã. Mẹ ông là Henrietta (née Presborck; 1788-1863); các chị em ruột của ông là Sophie, Hermann, Henriette, Louise (m. Juta), Emilie và Caroline.

Giáo dục

Marx được giáo dục tại nhà cho đến năm 13 tuổi. Sau khi tốt nghiệp trung học Trier, Marx vào khoa luật học thuộc đại học tại Born năm 1835 ở độ tuổi 17, ở đó ông đã gia nhập câu lạc bộ hội uống rượu Trier với tư cách là chủ tịch hội; kết quả là điểm số của ông bị tụt xuống. Marx thích nghiên cứu triết học và văn học, nhưng cha ông không đồng ý bởi vì ông không tin là con trai mình sẽ có được một cuộc sống vật chất đầy đủ với tư cách là một học giả. Năm tiếp theo, cha ông buộc ông chuyển đến nơi xa hơn, nghiêm trang và hàn lâm hơn là Friedrich-Wilhelms-Universität ở Berlin. Trong suốt thời kỳ này, Marx đã viết rất nhiều thơ và những bài tiểu luận nho nhỏ về cuộc sống, sử dụng lối ngôn ngữ thần học lấy từ người cha theo tự do, thần luận, chẳng hạn như “Thượng đế”, nhưng cũng say mê nghiên cứu triết học vô thần của phái Hegel trẻ đang rất nổi danh ở Berlin thời bấy giờ. Marx dành được học vị tiến sĩ vào năm 1841 với luận văn nhan đề Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Democrite và của Epicure, nhưng ông phải nộp bản luận văn tiến sĩ đó cho đại học ở Jena khi ông bị cảnh báo rằng danh tiếng của ông trong khắp cái khoa đó với tư cách là một thành viên của nhóm Hegel trẻ cấp tiến sẽ chỉ mang lại cho ông sự tiếp đón tồi ở Berlin.

Marx và nhóm Hegel trẻ

Cánh tả, hay nhóm Hegel trẻ, gồm một nhóm các triết gia và các ký giả tập hợp quanh Ludwig Feuerbach và Bruno Bauer phản đối ông thầy Hegel của họ. Mặc dù họ phê phán những giả định siêu hình của Hegel, nhưng họ lại sử dụng phương pháp biện chứng của Hegel, tách biệt nó với cái nội dung thần học của nó, như là một vũ khí đầy sức mạnh phê phán chính trị và tôn giáo chính thống hiện thời. Một số thành viên của nhóm này rút ra được một sự tương đồng giữa triết học hậu Aristote và triết học hậu Hegel. Một trong số họ, Max Stirner, đã quay lại chỉ trích cả Feuerbach và Bauer trong cuốn sách của ông “Der Einzige und sein Eigenthum” (1845, Bản ngã và tự nó), gọi những người vô thần này là “người sùng đạo” nặng nề nhất. Marx, vào lúc đó là một người theo Feuerbach, đã bị ấn tượng sâu sắc bởi tác phẩm đó và đã từ bỏ chủ nghĩa duy vật của Feuerbach và hoàn thành xong cái mà những tác giả gần đây đã chỉ rõ là một “sự cắt đứt trong nhận thức luận”. Ông đã phát triển khái niệm mới về chủ nghĩa duy vật lịch sử chống lại Stirner trong cuốn sách “Die Deutsche Ideologie” của ông (1846, Hệ tư tưởng Đức), mà ông đã không xuất bản. Một mối liên hệ nữa với nhóm Hegel trẻ là Moses Hess, với ông ta Marx rốt cuộc cũng bất đồng quan điểm, vào lúc này đây, với ông ta Marx cũng còn có những món nợ ân tình vì sự hiểu biết sâu sắc của ông ta về những mối quan hệ giữa nhà nước, xã hội và tôn giáo.

Về cuối tháng 10 năm 1843, Marx đến Paris, Pháp. Ở đó, vào ngày 28 tháng 8 năm 1844, tại tiệm cafe de la Régence ở Phố du Palais ông đã bắt đầu tình bạn quan trọng nhất trong đời ông, và là một trong những tình bạn quan trọng nhất trong lịch sử – ông gặp Friedrich Engels. Engels tới Paris chỉ để gặp Marx, người mà ông đã gặp trong chốc lát tại văn phòng của báo Rheinische Zeitung năm 1842. Ông đến để cho Marx xem cái mà hóa ra có lẽ là tác phẩm vĩ đại nhất của Engels, Tình cảnh giai cấp công nhân Anh năm 1844. Paris lúc này đang là nơi ở và là cơ quan đầu não của một đạo quân vô kể những nhà cách mạng Đức, Anh, Balan, và Ý. Marx, về phần ông, tới Paris để làm việc với Arnold Ruge, một nhà cách mạng khác đến từ Đức, về vấn đề báo Deutsch-Französische Jahrbücher .

Sau thất bại trong việc báo Deutsch-Französische Jahrbücher. Marx, hiện đang sống ở Rue Vaneau, đã viết cho tờ báo cấp tiến nhất trong tất cả những tờ báo Đức ở Paris, mà thực ra là trong toàn châu Âu, tờ Vorwärts, được thành lập và điều hành bởi hội bí mật gọi là Liên đoàn công minh. Những chủ đề của Marx nói chung là về người Do Thái và Hegel. Khi không viết lách, Marx nghiên cứu lịch sử Cuộc cách mạng Pháp và đọc Proudhon. Ông cũng dành phần lớn thời gian để nghiên cứu một mặt của cuộc sống chưa bao giờ được làm quen đến trước đó – một giai cấp vô sản thành phố khổng lồ.

Ông đã đánh giá lại mối quan hệ của mình với nhóm Hegel trẻ, và như một lời hồi đáp lại học thuyết vô thần của Bauer viết trong Về vấn đề Do Thái. Bài tiểu luận này chủ yếu là một sự phê phán những quan niệm hiện thời về quyền công dân và quyền con người và sự giải phóng chính trị, nó cũng có một vài phê phán dính dáng tới đạo Do Thái cũng như đạo Cơ-Đốc từ quan điểm giải phóng xã hội. Engels, một người cộng sản tận tâm, nhóm lên trong Marx niềm hứng thú đối với tình cảnh của giai cấp công nhân và đã dẫn đường sự hứng thú của Marx đối với kinh tế học. Marx trở thành một người cộng sản và đã thiết lập những quan điểm của ông trong một loạt những bài viết được biết dưới tên Những Bản thảo Kinh tế và Triết học năm 1844, vẫn còn chưa được xuất bản cho đến tận những năm 1930. Trong Bản thảo này, Marx đã phác thảo ra một quan niệm nhân văn về chủ nghĩa cộng sản, bị ảnh hưởng bởi triết học của Ludwig Feuerbach và dựa trên sự tương phản giữa sự thờ ơ với tình cảnh của lao động dưới chủ nghĩa tư bản và một xã hội cộng sản trong đó con người được tự do phát triển khả năng tự nhiên của họ trong hiệp tác sản xuất.

Tháng giêng năm 1845, sau khi tờ Vorwärts phát biểu ý kiến nồng nhiệt tán thành việc cố gắng ám sát Frederick William IV, Vua Phổ, Marx, cùng những người khác, bị buộc phải rời khỏi Paris. Ông và Engels đã chuyển đến Brussels, Bỉ.

Marx đã chuyên tâm nghiên cứu sâu sắc lịch sử và làm hoàn thiện thêm chi tiết quan niệm của ông về chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là trong bản thảo (được xuất bản sau khi ông mất là Hệ Tư tưởng Đức), luận cương cơ bản của nó là “bản chất của các cá nhân phụ thuộc vào điều kiện vật chất quy định hoạt động sản xuất của họ.” Marx đã truy nguyên lịch sử của các phương thức sản xuất và tiên đoán sự sụp đổ của phương thức sản xuất hiện thời – chủ nghĩa tư bản công nghiệp – và sự thay thế nó bằng chủ nghĩa cộng sản. Đây là tác phẩm quan trọng đầu tiên của cái mà các học giả coi là giai đoạn sau này của ông, từ bỏ ảnh hưởng nhân văn của Feuerbach trong những tác phẩm trước đây của ông.

Tiếp đó, Marx viết Sự khốn cùng của Triết học (1847), một lời đáp lại cuốn Triết học của sự khốn cùng của Pierre-Joseph Proudhon và là một sự phê phán tư tưởng của các nhà xã hội chủ nghĩa Pháp hiện thời. Những tác phẩm này đã đặt nền tảng cho tác phẩm tuyệt vời nhất của Marx và Engels, Tuyên ngôn Cộng sản, xuất bản lần đầu vào ngày 21 tháng 2 năm 1848, là tuyên ngôn của Liên đoàn những người Cộng sản, một nhóm nhỏ các nhà cộng sản châu Âu đã tiến tới bị ảnh hưởng bởi Marx và Engels.

Sau năm đó, châu Âu đã trải qua sự biến chuyển cách mạng một cách dữ dội. Marx bị bắt và bị trục xuất khỏi Bỉ; trong lúc ấy một sự vận động quyết liệt đã cướp mất quyền lực của Vua Louis Philippe của Pháp, và mời Marx quay trở lại Paris, ở đó ông trực tiếp chứng kiến Cuộc khởi nghĩa cách mạng tháng 6 (Cách mạng Pháp năm 1848).

Khi cuộc khởi nghĩa này sụp đổ vào năm 1849, Marx đã quay trở lại Cologne và bắt đầu báo Neue Rheinische Zeitung (Báo sông Ranh mới). Trong suốt thời kỳ tồn tại của báo ông đã hai lần bị tòa xét xử, vào ngày 7 tháng 2 năm 1849 do bởi có cách cư xử xấu, và vào ngày 8 vì kích động cuộc nổi dậy vũ trang. Cả hai lần ông đều được tuyên trắng án. Tờ báo đã sớm bị đình bản và Marx quay trở lại Paris, nhưng lại bị trục xuất lần nữa. Lần này ông tìm nơi ẩn náu ở London.

London

Marx đến London vào tháng năm 1849, ở đó ông đã sống suốt quãng đời còn lại. Năm 1855, gia đình Marx phải gánh chịu một tai họa vì sự ra đi của cậu con trai của họ, Edgar, do bệnh lao. Trong lúc ấy, Tác phẩm chính của Marx về kinh tế chính trị học diễn tiến chậm chạp. Tới năm 1857 ông đã viết được một bản thảo khổng lồ gồm 800 tờ in về tư bản, địa tô, tiền lương, nhà nước, thương mại quốc tế và thị trường thế giới. Tuy nhiên tác phẩm này đã không được xuất bản cho tới năm 1941, dưới nhan đề Grundrisse. Những năm đầu thập kỷ 60 ông chuyên tâm vào soạn ba tập lớn, Các học thuyết về giá trị thặng dư, bàn đến các lý thuyết gia kinh tế chính trị học, đặc biệt là về Adam Smith và David Ricardo. Tác phẩm này, được xuất bản sau khi ông mất dưới sự biên tập của Karl Kautsky thường được coi là tập IV của bộ Tư bản, và cấu thành một trong những luận thuyết toàn diện đầu tiên trong lịch sử tư tưởng kinh tế học. Năm 1867, sau một chương trình làm việc dài, tập đầu của bộ Tư bản đã được xuất bản, tác phẩm này phân tích về sự vận động của tư bản trong sản xuất. Ở đây, Marx đã trình bày tỉ mỉ lý thuyết lao động của ông về giá trị và khái niệm của ông về giá trị thặng dư và sự khai thác mà ông lập luận rằng cuối cùng sẽ dẫn đến sự sụt giảm lợi nhuận và sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản. Tập II và tập III vẫn còn ở dạng bản thảo mà trên đó Marx tiếp tục làm việc trong suốt quãng đời còn lại của ông và được Engels xuất bản sau khi ông mất. Năm 1859, Marx đã có thể xuất bản Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, tác phẩm kinh tế quan trọng đầu tiên của ông. Về nghề báo của ông trong thời kỳ này, Marx bảo vệ cho sự nghiệp thống nhất trong cuộc Nội chiến ở Mỹ.

Một lý do tại sao Marx chậm cho xuất bản bộ Tư bản là do ông đã cống hiến thời gian và sức lực của mình cho Quốc tế I, mà ông đã đắc cử trong Tổng Hội đồng vào thời điểm Quốc tế I được thành lập năm 1864. Ông đã hoạt động đặc biệt cho việc chuẩn bị Hội nghị Quốc tế thường niên và lãnh đạo cuộc đấu tranh chống lại cánh vô chính phủ dẫn đầu bởi Mikhail Bakunin (1814-1876). Mặc dù Marx thắng trong cuộc chiến này, việc chuyển trụ sở của Tổng hội đồng từ London đến New York năm 1872, được Marx ủng hộ, đã dẫn đến sự sụp đổ của Quốc tế Cộng sản. Sự kiện chính trị quan trọng nhất trong suốt thời kỳ tồn tại của Quốc tế Cộng sản là Công xã Paris năm 1871 khi nhân dân Paris nổi lên chống lại chính phủ của họ và nắm giữ thành phố trong hai tháng. Về sự đàn áp đẫm máu cuộc nổi dậy này, Marx đã viết trong một trong những cuốn sách mỏng nổi tiếng nhất của ông, Cuộc nội chiến ở Pháp, một lời bảo vệ nhiệt tình cho Công xã.

Trong suốt thập kỷ cuối của cuộc đời, sức khỏe của Marx bị suy sụp và ông không thể duy trì được sự cố gắng liên tục như trong công việc trước đây của ông. Ông đã đảm nhiệm việc bình luận về cơ bản nền chính trị đương thời, đặc biệt là ở Đức và Nga. Ở Đức, trong Phê phán Cương lĩnh Gotha, ông đã phản đối những người theo ông là Wilhelm Liebknecht (1826-1900) và August Bebel (1840-1913) đã thỏa hiệp với chủ nghĩa xã hội nhà nước của Ferdinand Lassalle trong lợi ích của một đảng xã hội chủ nghĩa thống nhất. Trong thư của ông gửi Vera Zasulich, Marx đã dự tính về khả năng của Phổ bỏ qua trạng thái tư bản chủ nghĩa trong sự phát triển và xây dựng chủ nghĩa cộng sản dựa trên nền tảng sở hữu chung về đất đai tiêu biểu như ở làng Mir.

Cuộc sống gia đình

Karl Marx kết hôn với Jenny von Westphalen, một người con gái có giáo dục của một nam tước Phổ. Sự hứa hẹn của Karl Marx với cô thoạt tiên được giữ bí mật, và trong vài năm bị phản đối bởi cả nhà Marx và nhà Westphalen. Bất chấp sự phản đối, hai người đã kết hôn vào ngày 19/06/1843 ở Kreuznacher Pauluskirche, Bad Kreuznach.

Trong suốt nửa đầu những năm 1950 gia đình Marx sống cảnh nghèo túng trong một căn hộ ba phòng ở khu phố Soho của London. Marx và Jenny đã có được 4 người con và sau đó là ba người nữa. Trong đó chỉ có ba người là còn sống được đến tuổi trưởng thành. Nguồn sống chủ yếu của Marx vào thời gian này là từ Engels, ông trích ra một khoản thu nhập đều đặn ngày càng tăng dần từ công việc kinh doanh của gia đình ở Manchester. Khoản phụ thêm cho thu nhập gia đình Marx là từ những bài báo hàng tuần mà ông viết cho tờ New York Daily Tribune với tư cách là một phóng viên nước ngoài. Số tiền từ Engels cho phép gia đình Marx chuyển đến nơi ở tạm có phần nào tốt hơn ở ngoại ô mới giáp vùng ngoại ô London. Marx thường phải sống trong cảnh kiếm ăn qua ngày, luôn luôn ở vào cảnh chỉ vừa đủ ăn, mặc dù vậy đôi khi ông cũng trang trải những thứ tương đối xa xỉ của giai cấp tư sản, mà ông cảm thấy rằng cần thiết cho vợ và các con để cho họ có được một địa vị trong xã hội và theo kịp với thời đại.

Có một lời đồn đại đang còn gây tranh luận khác cho rằng Marx là cha của Frederick Demuth, con trai của người quản gia của gia đình Marx, Lenchen Demuth. Có vẻ như là lời đồn đại này thiếu mọi chứng cứ trực tiếp.

Những đứa con của Marx và vợ ông là: Jenny Caroline (m. Longuet; 1844-1883); Jenny Laura (m. Lafargue; 1846-1911); Edgar (1847-1855); Henry Edward Guy (“Guido”; 1849-1850); Jenny Eveline Frances (“Franziska”; 1851-1852); Jenny Julia Eleanor (1855-1898); và một người nữa mất trước khi kịp đặt tên (July 1857).

Neuron (P.1) Thứ Năm, Jun 4 2009 

From Wikipedia

Biên dịch: Ngô Minh Tuấn


Neuron (hay neurone, tế bào thần kinhthớ thần kinh) là các tế bào kích thích điện trong hệ thần kinh có chức năng xử lý và vận chuyển thông tin. Ở các động vật xương sống, neuron là là thành phần chính hợp thành bộ não, tủy sống và thần kinh ngoại biên.

Neuron có các thành phần chủ yếu gồm một soma, hay thân tế bào, một trục hình cây và một axon. Phần lớn các động vật xương sống nhận tín hiệu vào tại các cơ thể tế bào và dendritic, và truyền tín hiệu ra qua axon. Tuy nhiên, có một sự thay đổi rất lớn trong toàn bộ hệ thần kinh và dọc theo giới động vật về kích cỡ, hình thù và chức năng của các neuron.

Các neuron thông tin qua các khớp nối điện hóa, trong một quá trình gọi là vận chuyển tiếp hợp. Quy trình nền tảng khởi sự vận chuyển tiếp hợp là hoạt động điện hóa, một tín hiệu điện truyền đi được phát ra bằng cách khai thác màng điện dễ bị kích thích của neuron.

Nội dung

  • 1 Lịch sử
  • 2 Gải phẫu học và Mô học
  • 3 Các lớp
    • 3.1 Phân loại cấu trúc
    • 3.2 Phân loại chức năng
  • 4 Tính liên kết
  • 5 Phỏng theo hoạt động mang điện thế
  • 6 Mô học và cấu trúc bên trong
  • 7 Những thách thức cho học thuyết neuron
  • 8 Các neuron trong não
  • 9 Xem thêm
  • 10 Tham khảo
  • 11 Nguồn

Lịch sử

Vai trò là đơn vị chức năng cơ bản của hệ thần kinh của neuron được nhận ra lần đầu tiên vào đầu thế kỷ XX qua một công trình của nhà giải phẫu học người Tây Ban Nha Santiago Ramón y Cajal. Cajal cho rằng neuron là các tế bào rời rạc liên hệ với nhau thông qua chức các khớp nối điện hóa, hoặc khoảng không, giữa các tế bào. Đây là học thuyết về neuron, một trong những nguyên lý trung tâm của khoa học neuron hiện đại. Để quan sát được cấu trúc của các neuron cá thể, Cajal đã sử dụng phương pháp nhuộm màu bằng bạc được một đối thủ của ông là Camillo Golgi phát triển. Nhuộm màu Golgi là một phương pháp cực kỳ hữu hiệu cho việc nghiên cứu kết cấu neuron do bởi, vì một lý do nào đó, nó nhuộm một tỷ lệ rất nhỏ các tế bào trong một mô, vì vậy có thể nhìn thấy hoàn toàn cấu trúc vi mô của các cá thể neuron mà không gặp phải tình trạng chồng chéo do bởi các tế bào khác trong bộ não dầy đặc neuron cũng bị nhuộm gây ra.

Giải phẫu học và mô học

Neuron có tính chuyên dụng cao cho việc chế biến và vận chuyển các tín hiệu tế bào. Các neuron trong các phần khác nhau của hệ thần kinh có chức năng rất khác nhau, như thường được mong đợi, có một dải rộng hỗn hợp các giá trị khác nhau về hình thù, kích cỡ và tính chất điện hóa của neuron. Chẳng hạn, soma của neuron có đường kính thay đổi từ 4 đến 100 micromet.

  • Soma, là phần chủ yếu của neuron. Nó chứa nhân của tế bào này, và do đó là nơi diễn ra phần lớn các phản ứng tổng hợp protein. Nhân có kích thước thay đổi từ 3 đến 18 micromet.
  • Phần hình cây của neuron là những phần mở rộng của tế bào với nhiều nhánh, và do đó trông giống như một cái cây hình cây. Hình dạng tổng thể và cấu trúc của phần cây của neuron được gọi là trục hình cây của nó, và là nơi tiếp nhận phần lớn các thông tin vào neuron. Tuy nhiên, dòng thông tin ra (chẳng hạn từ phần cây đến các neuron khác) cũng có thể xuất phát ra từ đó.
  • Sợt trục thần kinh là một phần nhô ra mảnh, giống dây cáp trải ra gấp mười, gấp trăm hay thậm chí gấp hàng ngàn lần độ dài đường kính của soma. Sợi trục mang tín hiệu thần kinh ra khỏi soma (và cũng mang một vài loại thông tin lại). Nhiều neuron chỉ có một sợi trục (axon), nhưng axon này – và thỉnh thoảng sẽ – trải rộng nhánh ra, cho phép liên lạc được với nhiều tế bào đích. Phần axon lòi ra từ soma được gọi là “gò axon”. Bên cạnh việc là một cấu trúc giải phẫu, gò axon còn là phần của neuron có mật độ điện áp cao nhất – phụ thuộc vào các kênh Natri. Điều này làm cho nó trở thành phần dễ gây kích thích nhất của neuron và là phần bắt đầu nhọn của axon: trong thuật ngữ thần kinh học nó có ngưỡng hoạt động siêu phân cực điện thế cao nhất. Trong khi axon và gò axon thường là có liên quan đến các dòng thông tin ra, nhưng chúng cũng có thể nhận tín hiệu vào từ các neuron khác.
  • Cực axon là một cấu trúc chuyên dụng ở điểm cuối của axon thường giải phóng các truyền dẫn thần kinh và liên hệ với neuron đích.

Mặc dù quan điểm chuẩn về neuron quy các chức năng chuyên biệt cho các hợp phần kết cấu khác nhau của nó, phần cây và các axon thường hoạt động theo những cách trái ngược với cái gọi là chức năng chủ yếu của chúng.

Axon và phần cây trong hệ thần kinh trung ương có đặc điểm là chỉ dầy độ 1 micromet, trong khi đó một số ở hệ thần kinh ngoại biên dày hơn nhiều. Soma thông thường có đường kính 10 đến 25 micromet và thường là không lớn hơn nhân tế bào mà nó chứa nhiều lắm. Axon dài nhất của con người có thể dài trên 1 met, từ phần cuối xương sống xuống tới ngón chân. Các neuron cảm giác có axon chạy từ ngón chân đến trụ sống lưng, ở người trưởng thành là cỡ 1,5 met. Duy ở Hươu cao cổ có những axon dài tới vài mét chạy dọc theo toàn bộ chiều dài cái cổ của nó. Phần lớn những gì biết về chức năng của axon là từ việc nghiên cứu axon của mực khổng lồ, một sự chuẩn bị thí nghiệm tưởng tượng do bởi kích thước tương đối lớn của nó (dầy 0.5–1 milimet, dài vài centimet)…

Khi đối xứng sụp đổ Thứ Năm, Jun 4 2009 


Sụp đổ đối xứng điện yếu: giải quyết được điều bí ẩn về việc đối xứng bị sụp đổ có thể xác định phương hướng trong tương lai của vật lý hạt như thế nào.

Edward Witten

NATURE|VOL 429 | 3 JUNE 2004 |www.nature.com/nature

Biên dịch: Ngô Minh Tuấn

Tổ tiên thời tiền sử của chúng ta không cần đến bất cứ trang thiết bị hiện đại nào để dò ra hiệu ứng của cái mà ngày nay chúng ta gọi là những tương tác điện từ. Ánh sáng trong cuộc sống thường ngày rõ ràng là đẹp, và những hiệu ứng điện từ khác, chẳng hạn như sự tĩch điện, sét và những tính chất từ của một số tảng đá, ví dụ như đá nam châm, đều đã được nhiều người biết đến từ xưa rồi.

Nhưng phải cần đến một chút công nghệ hiện đại để thậm chí là phát hiện ra sự tồn tại của những tương tác yếu – chứ chưa nói đến việc hiểu chúng. Chúng ta lần đầu tiên nhận ra sự tồn tại của tương tác yếu với sự phát hiện ra hiện tượng phóng xạ vào năm 1896. Một số hạt nhân phóng xạ phân hủy bằng cách phát xạ hạt β, mà ngày nay chúng ta biết đó là những hạt electron mang năng lượng. Sự phân rã hạt nhân β này là lối hữu dụng nhất để thâm nhập vào tương tác yếu, và là con đường duy nhất khả dĩ cho mãi đến tận giữa thế kỷ vừa qua, đến khi những máy dò tia vũ trụ, lò phản ứng hạt nhân và máy gia tốc hạt bước lên sân khấu. Điện học, từ tính và ánh sáng xưa kia được xem như ba chủ đề riêng biệt. Việc hiểu được sự thống nhất của chúng, đã đạt được trong thế kỷ XIX, dẫn các nhà khoa học đến việc mô tả chung chúng là các hiện tượng “điện từ”. Điện từ dường như là một thỏa thuận có giá trị rõ ràng hơn những tương tác yếu. Nhưng với hiểu biết hiện nay của chúng ta, được xây dựng trên cái gọi là “mô hình chuẩn” của vật lý hạt, thì chúng hoàn toàn tương tự như nhau. Ví dụ, hiện tượng điện từ được mô tả bởi các phương trình Maxwell, và tương tác yếu được mô tả bởi một tập hợp các phương trình, mặc dù là phi tuyến, hoàn toàn tương tự (gọi là các phương trình Yang – Mills). Một ví dụ khác, một hạt cơ bản gọi là photon là đơn vị lượng tử cơ bản của điện từ, và những hạt tương tự gọi là boson W Z là đơn vị lượng tử cơ bản của tương tác yếu. Do bởi mối quan hệ gần gũi này giữa điện từ và tương tác yếu, nên các nhà vật lý hạt hiện đại gộp chung chúng thành tương tác “điện yếu”.

Nếu tương tác yếu là tương tự với điện từ, vậy tại trong cuộc sống hàng ngày chúng lại xuất hiện rất khác nhau như vậy? Theo như mô hình chuẩn, chìa khóa nằm ở sự “phá vỡ đối xứng”. Cho dù các quy luật tự nhiên có một đối xứng – trong trường hợp này là đối xứng giữa điện từ và tương tác yếu, hay đối xứng giữa photon và boson WZ – thì những đáp án của các phương trình lại có thể thiếu sự đối xứng đó.

Ví dụ, trong một chất lỏng, một nguyên tử có khả năng di chuyển như nhau về mọi hướng trong không gian – không có trục tọa độ nào được ưu tiên. Nhưng nếu chúng ta làm lạnh chất lỏng đó cho đến khi hóa băng nó, một tinh thể băng sẽ định dạng, nó có những trục phân biệt. Mọi hướng trong không gian đều có khả năng như nhau là trục tinh thể, nhưng khi chất lỏng đông lại một số trục phân biệt sẽ luôn luôn xuất hiện. Đối xứng giữa những hướng khác nhau trong không gian đã bị mất hay “tự phá vỡ”. Tương tự như vậy, theo mô hình chuẩn, ngay sau “Vụ nổ lớn” là thời kỳ đối xứng hoàn hảo giữa photon với boson W Z. Ở nhiệt độ cao tồn tại lúc đó, điện từ và tương tác yếu rõ ràng là như nhau. Nhưng khi vũ trụ lạnh đi, nó trải qua một pha chuyển tiếp, có phần nào đó tương tự như sự đông lạnh của một chất lỏng, trong đó đối xứng “tự phá vỡ”. Boson W Z trở nên có khối lượng, giới hạn tương tác yếu trong khoảng cách hạt nhân và làm cho những tác động của nó vượt khỏi tầm mắt trần của chúng ta. Photon vẫn không có khối lượng, kết quả là những hiệu ứng điện từ được phổ biến rộng rãi trên thang khoảng cách của con người (và bên ngoài đó nữa) và là rõ ràng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

Hầu hết các khía cạnh của mô hình chuẩn đã được kiểm nghiệm nhiều bằng thực nghiệm. Chẳng hạn, mômen từ của electron đo được thấp hơn 1/12 lần con số có ý nghĩa, kết quả này phù hợp một cách tuyệt vời với lý thuyết. Nhiều tính chất tiên đoán của boson WZ đã được xác minh tới ba đến bốn con số. Gần đây nhất, kỹ thuật mà nhờ nó mô hình chuẩn vi phạm đối xứng giữa vật chất và phản vật chất đã được kiểm tra trong các phòng thí nghiệm ở California và Nhật.

Một khía cạnh của mô hình chuẩn mà chúng ta vẫn chưa có khả năng kiểm tra qua thực nghiệm có lẽ là cái cơ bản nhất: đối xứng bị phá vỡ như thế nào? Tuy nhiên, chúng ta có một ý tưởng sáng sủa thú vị về nơi có thể cung cấp được những thông tin đó. Cũng như bạn có thể sử dụng một lượng các nguyên tử và năng lượng cần thiết để ước đoán điểm tan chảy của tinh thể, bạn cũng có thể sử dụng một lượng các boson W và Z và những tính chất quan sát được khác của các hạt cơ bản để ước lượng mức nhiệt độ hoặc năng lượng cao mà các máy gia tốc hạt cần đạt đến để khảo sát sự phá vỡ đối xứng điện yếu. Theo những ước đoán này, sự phá vỡ đối xứng điện yếu có lẽ là ở trong tầm với của chiếc máy gia tốc mạnh nhất thế giới, máy gia tốc Tevatron tại Fermilab ở Chicago, và chắc chắn sẽ nằm trong tầm với của chiếc máy gia tốc Large Hadron Collider (LHC), một chiếc máy gia tốc mới được dự kiến đưa vào hoạt động năm 2007 tại CERN, phòng thí nghiệm vật lý hạt châu Âu gần Geneva.

Chúng ta mong đợi sẽ tìm được gì? trong nguyên bản chính (và trong sách giáo khoa) của mô hình chuẩn, điều then chốt đối với sự phá vỡ đối xứng điện yếu là một thực thể gọi là hạt Higgs. Ở nhiệt độ cao, hạt Higgs, giống như các hạt khác, chuyển động hỗn độn. Nhưng khi vũ trụ lạnh đi, hạt Higgs kết hợp thành một “Bose condensate”, một trạng thái ngăn nắp trong đó nhiều hạt cùng chia sẻ một hàm sóng, dẫn đến – trong trường hợp của Heli – chất siêu lỏng. Đối xứng điện yếu bị phá vỡ theo “hướng” của Bose condensate (trong một không gian trừu tượng mô tả các hạt lực khác nhau) theo cách đại thể như trong một tinh thể, đối xứng quay bị phá vỡ theo những hướng của trục tinh thể. Mặc dù đề xuất này đơn giản và vừa khớp với thực tế, nhưng dường như toàn bộ câu chuyện không chỉ có vậy. Một sự điều chỉnh nhân tạo bề ngoài của các tham số là cần thiết để làm cho khối lượng hạt Higgs nhỏ đủ để mô hình làm việc được.

Có rất nhiều đề xuất để giải quyết vấn đề đặc biệt này, nhưng chúng lại đưa vào những rối rắm của riêng mình. Một ý tưởng, được thúc đẩy bởi một hiện tượng xuất hiện trong những chất siêu dẫn, là hạt Higgs xuất hiện như một trạng thái tới hạn. Ý tưởng này sẽ giải quyết vấn đề nhận được khối lượng đúng của nó, nhưng lại đòi hỏi hàng loạt những hạt và lực mới, mà cho đến giờ vẫn còn chưa ai thấy. Chúng sẽ được dò ra tại LHC. Cho đến bây giờ, những mô hình kiểu này đã vấp phải hàng loạt khó khăn, nhưng biết đâu rằng tự nhiên biết những thủ thuật mà những người xây dựng mô hình không biết.

Một ý tưởng tiến bộ hơn là “siêu đối xứng”, một cấu trúc đối xứng mới của các hạt cơ bản trong đó các biến số lượng tử bị hợp nhất với cấu trúc của không – thời gian. Đối xứng mới này ngăn chặn các tương tác hạt làm cho khối lượng hạt Higgs quá lớn nhưng, một lần nữa, tiên đoán thêm một loạt các hạt mới có thể được phát hiện với LHC, và cũng có thể là với Tevatron.

Siêu đối xứng là một ý tưởng về sự phá vỡ đối xứng điện yếu có một sự thành công đầy thuyết phục. Một quan hệ giữa tốc độ tương tác hạt khác nhau dựa trên siêu đối xứng đã được xác nhận tốt bằng thực nghiệm. Hơn nữa, những cố gắng đáng chú ý nhất của chúng ta cho một sự thống nhất hoàn thiện hơn các lực trong tự nhiên (“lý thuyết thống nhất lớn” và “thuyết dây”) thực sự chỉ làm việc khi siêu đối xứng được thừa nhận. Mặt khác, những mô hình siêu đối xứng nêu lên hàng hoạt những câu hỏi rối rắm mà những nhà xây dựng mô hình vẫn chưa thể có được câu trả lời thuyết phục. Nếu siêu đối xứng được xác nhận, khi đó việc học xem tự nhiên giải quyết những câu hỏi đó như thế nào có lẽ sẽ đem lại cho chúng ta những manh mối quyết định về một sự hiểu biết sâu hơn tự nhiên.

Những ý tưởng khác về sự phá vỡ đối xứng điện yếu thậm chí còn đi xa hơn nữa. Một ý tưởng liên kết vấn đề này với những chiều phụ thêm của không – thời gian, kích cỡ hạ nguyên tử, nhưng có thể quan sát được với các máy gia tốc. Phương pháp này có lẽ là một phỏng đoán vô căn cứ, nhưng sự thưởng phạt sẽ là sự phát hiện vĩ đại ra các chiều phụ thêm có thể đem lại cho chúng ta cơ hội có những kiểm tra thực nghiệm trực tiếp bản chất lượng tử của hấp dẫn và hố đen.

Cuối cùng, một dòng tư tưởng khác liên kết sự phá vỡ đối xứng điện yếu với năng lượng tối của vũ trụ, mà các nhà vũ trụ học đã phát hiện ra trong những năm vừa qua bằng cách quan sát sự giãn nở của vũ trụ đang gia tốc. Từ quan điểm này, người ta cố gắng liên hệ sự nhỏ bé tương đối của khối lượng hạt Higgs với sự nhỏ bé của năng lượng tối. Một phương pháp là nguyên lý vị nhân, theo đó năng lượng tối và khối lượng hạt Higgs nhận những giá trị khác nhau trong những phần khác nhau của vũ trụ, và chúng ta chắc chắn sống trong một miền mà chúng là đủ nhỏ để khiến cho sự sống là có thể có được. Nếu vậy, nhiều tính chất khác của vũ trụ mà chúng ta thường coi là cơ bản – chẳng hạn như khối lượng và tích lực của electron – có lẽ cũng là những yếu tố ngẫu nhiên phụ thuộc môi trường. Mặc dù tôi hy vọng rằng dòng tư tưởng này là không đúng, nó sẽ chắc chắn trở thành phổ biến nếu như thực nghiệm chỉ ra rằng sự phá vỡ đối xứng điện yếu bị chi phối bởi nội dung giáo khoa của mô hình chuẩn với một hạt Higgs và không gì thêm nữa.

Cho đến nay, không cái nào trong số những đề xuất lý thuyết trên về sự phá vỡ đối xứng điện yếu là thỏa mãn hoàn toàn. Hy vọng rằng, kết thúc thập kỷ này, những phát hiện thực nghiệm tại Tevatron và LHC sẽ giúp chúng ta đi đúng hướng. Nhưng tính đa dạng và phạm vi của những ý tưởng về sự phá vỡ đối xứng điện yếu đề xuất rằng giải pháp cho điều bí ẩn này sẽ xác định hướng đi tương lai cho vật lý hạt. n

Edward Witten tại Viện nghiên cứu cao cấp,

Ban Khoa học tự nhiên, Princeton,

New Jersey 08540, USA.

ĐỌC THÊM

. Gunion, J. F. et al. The Higgs Hunter’s Guide (Perseus Books, New York, 1990).

. Kane, G. Supersymmetry: Unveiling The Ultimate Laws Of Nature (Perseus Books, New York, 2001).

. Peskin, M. Beyond The Standard Model online athttp://arxiv.org/abs/hep-ph/9705479

Trang sau »